Hệ thống tính toán tình nguyện BOINC

Tính toán tình nguyện là một mô hình tính toán phân tán dựa trên việc tận dụng thời gian nhàn rỗi của các máy tính kết nối vào mạng Internet.

Bắt đầu từ cuối những năm 1990, tính toán tình nguyện đã từng bước phát triển và khẳng định chỗ đứng của mình trong khoa học máy tính bằng những dự án tiêu biểu như : SETI@Home [2], ClimatePrediction[6], Einstein@Home[5] … Tính toán tình nguyện cho phép các cá nhân, tổ chức có thể dễ dàng tham gia và đóng góp công sức vào các hoạt động khoa học mang tính cộng đồng. Đó cũng là một cách để các tổ chức quảng bá, phổ biến các hoạt động khoa học ra cộng đồng. Để bắt kịp với xu thế chung của thế giới, từ năm 2008, Trung tâm Tính toán hiệu năng cao, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã triển khai nghiên cứu, tìm hiểu, làm chủ công nghệ tính toán tình nguyện với nền tảng là gói phần mềm BOINC, từ đó từng bước ứng dụng vào thực tiễn.

Với mong muốn áp dụng công nghệ tính toán tình nguyện để giải quyết các bài toán thực tế của Việt Nam với hiệu năng tốt nhất. Đề tài nghiên cứu này đã đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu các công nghệ mới nhất về tính toán tình nguyện, từ đó khai thác những ưu điểm sẵn có, tìm ra những nhược điểm cần cải tiến và khắc phục, nhằm thiết lập nên một hệ thống lưới tính toán tình nguyện đáp ứng được các nhu cầu tính toán hiện có, cụ thể như sau:

  • Công nghệ nền tảng để xây dựng hệ thống dựa trên gói phần mềm mã nguồn mở BOINC [5], đây là chính gói phần mềm được sử dụng rộng rãi và thành công nhất cho các dự án tình toán tình nguyện hiện nay trên thế giới.
  • Xây dựng thành công lưới tính toán tình nguyện với máy chủ đặt tại địa chỉ 202.191.56.60, sử dụng gói phần mềm BOINC, trong đó phần mềm BOINC server đã được cải tiến, sử dụng giải thuật lập lịch mới tiên tiến : “Giản đồ lập lịch chịu lỗi Round Robin dựa trên độ tin cậy” của TS. Luis.F.G. Sarmenta, Viện công nghệ Massachusetts – MIT, nhằm tăng hiệu năng thực thi của hệ thống trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu về độ chính xác của các kết quả tính toán.
  • Triển khai thành công ứng dụng mô phỏng khuếch tán nguyên tử của bộ môn Vật lý Tin học – Đại học Bách Khoa Hà Nội, lên lưới tính toán tình nguyện, chạy thử nghiệm và thu được kết quả chính xác với hiệu năng được cải thiện rõ rệt.

Hệ thống tính toán tình nguyện xây dựng trong đề tài nghiên cứu hiện đã chạy thử nghiệm thành công và có thể kết nối từ bên ngoài vào qua địa chỉ URL: 202.191.56.60/VCP bằng phần mềm client trong gói phần mềm BOINC. Mọi thông tin liên quan đến đề tài có thể tham khảo trang chủ của đề tài tại địa chỉ : http://hpcc.hut.edu.vn/vcp/

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Nông Thị A, Giàng A Sử, “Một số vấn đề chọn lọc của tin học”, kỷ yếu hội thảo FAIR 2007, 2007.
  • Nguyễn Dũng, “Một số vấn đề nâng cao của tin học”,
  • Eason, B. Noble, and I. N. Sneddon, “On certain integrals of Lipschitz-Hankel type involving products of Bessel functions,” Phil. Trans. Roy. Soc. London, vol. A247, pp. 529-551, Apr. 1955.
  • Clerk Maxwell, A Treatise on Electricity and Magnetism, 3rd ed., vol. 2. Oxford: Clarendon, 1892, pp. 68-73.
  • S. Jacobs and C. P. Bean, “Fine particles, thin films and exchange anisotropy,” in Magnetism, vol. III, G. T. Rado and H. Suhl, Eds.  New York: Academic, 1963, pp. 271-350.
  • Elissa, “Title of paper,” unpublished.
  • Nicole, “Title of paper with only first word capitalized,” J. Name Stand. Abbrev., submitted for publication.
  • J. Kaufman, Rocky Mountain Research Laboratories, Boulder, CO, personal communication, 1992.
  • Yorozu, M. Hirano, K. Oka, and Y. Tagawa, “Electron spectroscopy studies on magneto-optical media and plastic substrate interface,” IEEE Transl. J. Magn. Jpn., vol. 2, pp. 740-741, August 1987 [Dig. 9th Annual Conf. Magn. Jpn., p. 301, 1982].

Leave a Reply